Chuyển đổi số trong giáo dục ở Việt Nam thách thức và cơ hội

Chuyển đổi số ra đời trong thời đại internet bùng nổ và đang trở nên phổ biến trong thời gian gần đây, mô tả việc ứng dụng công nghệ vào tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp. Trong đó giáo dục cũng không nằm ngoài sự phát triển đó. Vậy chuyển đổi số trong giáo dục ở Việt nam đang diễn ra như thế nào?

chuyển đổi số trong giáo dục
chuyển đổi số trong giáo dục

Thực trạng chuyển đổi số trong ngành giáo dục hiện nay 

Việc áp dụng công nghệ hiện nay khá phổ biến, Việt Nam cũng đang từng bước thay đổi, áp dụng mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức. Đứng trước tình hình đó, giáo dục truyền thống buộc phải có thay đổi tích cực hơn. Đối với mỗi học sinh khác nhau thì công nghệ cho phép giáo viên đưa ra các mô hình học tập độc đáo phù hợp với riêng từng cá nhân. Mỗi một phần mềm hay phương pháp nào đưa ra đều phải phù hợp với trình độ kỹ năng của mỗi học sinh và cho phép học sinh học theo một tốc độ phù hợp nhất với nhu cầu của bản thân họ. Những phần mềm như vậy được gọi là phần mềm học tập thích ứng với nhu cầu, chúng đang nhanh chóng thay thế vai trò của những bộ sách giáo khoa trong các lớp học. Và như hiện nay các em học sinh đang giải quyết các môn học của mình với sự hỗ trợ của các chương trình máy tính được thiết kế riêng cho nhu cầu của mỗi học sinh.

Vai trò của chuyển đổi số ở trường đại học

Đại học – một hạt nhân quan trọng của quá trình chuyển đổi số. Công nghệ 4.0 tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu lao động, và qua đó tác động mạnh đến giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực. Các ngành nghề phổ thông sẽ dần bị thay thế, trong khi dù việc làm mới sẽ nảy sinh, nhưng lại đặt yêu cầu rất cao về trình độ lao động, với nhiều kỹ năng mới, phức tạp hơn, và cũng thay đổi nhanh chóng hơn. Chính vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực đứng trước sức ép nặng nề của sự thay đổi. Sản phẩm đầu ra là người lao động, ngoài việc phải được trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, còn cần phải được trang bị đầy đủ các kỹ năng số (digital skils) cần thiết để thích ứng với CN4.0. 

vai trò của chuyển đổi số trong các trường đại học

Về cơ bản, các kỹ năng số này bao gồm kỹ năng về sử dụng máy tính, và internet, nhưng nó cần bao gồm cả kỹ năng tự học để có thể nâng cao nghiệp vụ về kỹ năng số hằng ngày, để tránh việc bị tụt hậu lại phía sau trong kỷ nguyên số. Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng, sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận số (digital inequality) sẽ làm cho sự bất bình đẳng trong xã hội trở lên sâu sắc hơn. Chính vì vậy mà ngành giáo dục cần phải đảm bảo quyền tiếp cận số với các kỹ năng số cần thiết cho tất cả mọi người. Hiện tại, liên quan đến đào tạo công nghệ, ở đa phần các ngành nghề và các cơ sở đào tạo tại Việt Nam, việc đào tạo mới chỉ chú trọng ở việc vận hành, và phát triển hệ thống, trong khi việc thay đổi cập nhật chương trình và nội dung đào tạo để tạo ra các “tech leader” còn chưa được chú trọng.
Để làm được việc này, các trường đại học cần phải cung cấp cho sinh viên không những kiến thức về công nghệ cập nhật, mà còn cần cung cấp các kỹ năng về đổi mới sáng tạo, quản trị, và khởi nghiệp cần thiết để sẵn sàng đóng vai trò “leader” trong quá trình chuyển đổi số ở các tổ chức. 
Ngoài ra, chương trình học cũng cần được thay đổi theo hướng học qua trải nghiệm, học qua giải quyết vấn đề, mà khi đó sẽ không thể thiếu được vai trò của nghiên cứu khoa học, cũng như hợp tác thực tập với doanh nghiệp. Do đó, có thể nói nghiên cứu khoa học dù đã là đặc tính tự nhiên của đại học. Nhưng trong kỷ nguyên 4.0 thì đặc tính này lại càng trở nên vô cùng quan trọng và góp phần biến các trường đại học thực sự trở thành các trung tâm, là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực dẫn dắt sự thay đổi của xã hội thông qua công nghệ. 
Bên cạnh đó, đối với hoàn cảnh của Việt Nam hiện tại khi mà nền tảng công nghiệp còn hạn chế, các doanh nghiệp còn tương đối nhỏ lẻ, và vẫn tập trung chủ yếu ở gia công sản phẩm, thì trường đại học, với các phòng thí nghiệm nghiên cứu trọng điểm, với nguồn lực chuyên gia chất lượng cao và sức trẻ, sự sáng tạo của sinh viên góp phần tạo ra trực tiếp các sản phẩm công nghệ góp phần dẫn dắt các trào lưu công nghệ trong xã hội. Và để thực hiện được các vai trò này, các trường đại học rất cần sự hỗ trợ và đầu tư của Nhà nước và Doanh nghiệp.

Những thách thức khi chuyển đổi số trong ngành giáo dục ở Việt Nam

Nếu như ví quá trình chuyển đổi số như một chặng đường dài thì các Trường đại học ở Việt Nam mới đang ở vạch xuất phát. Trên thực tế hiện tại thì thị trường giáo dục thông minh trên thế giới hiện đã đạt giá trị lên tới 220 tỷ USD. Trong đó riêng thị trường Việt Nam, năm 2016 đã có 309 dự án giáo dục điện tử với tổng số vốn lên tới trên 767 triệu USD còn thị trường giáo dục online đã đạt trên 2 tỷ USD (gần 46.000 tỷ đồng). 

Những thách thức khi chuyển đổi số trong ngành giáo dục ở Việt Nam

Hiện Mỹ và Trung Quốc đang là 2 quốc gia đi đầu trong cạnh tranh về giáo dục thông minh, các trường của Việt Nam đã bắt đầu chuyển đổi nhưng mới ở vạch xuất phát. Tuy nhiên, một trong những thách thức đặt ra là nếu các trường chuyển đổi sang mô hình trường học thông minh thì hàng loạt các yếu tố sẽ phải thay đổi liên quan tới các thiết bị phần cứng, phần mềm, công nghệ, phòng học thông minh đi cùng với hoạt động sư phạm thông minh, quản lý người học, giáo viên thông minh và chương trình giảng dạy thông minh.
Theo tính toán của TS. Phạm Quang Dũng – Giám đốc Trung tâm tin học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, quá trình chuyển đổi này sẽ làm chi phí tăng lên khoảng 60% so với đầu tư một mô hình học tập theo phương thức truyền thống. Tùy vào từng mô hình lớp học thì sẽ có các mức đầu tư khác nhau. Và về bản chất thì công nghệ này sẽ không có một giới hạn số lượng trường tham gia khiến các trường vùng sâu, xa vẫn có thể tham gia để sử dụng học liệu của các trường đại học hàng đầu và ngay cả các trường phổ thông cũng có thể sử dụng một phần những dữ liệu này.

Giáo dục trong tương lai cần phải thay đổi như thế nào?

Đứng trước thách thức và khó khăn đó, giáo dục phải có sự thay đổi để thích nghi cho phù hợp. Thay đổi mục tiêu học tập, ngày càng mở rộng hơn ở các lĩnh vực để làm chủ kiến thức và kỹ năng cơ bản. Giáo viên không phải là người duy nhất có được kiến thức và thông tin giá trị, thay vào đó họ là người giúp học trò có khả năng hiểu ý nghĩa của thông tin, phân biệt sự khác biệt giữa những gì quan trọng và không quan trọng.
Giáo dục trong tương lai cần phải thay đổi như thế nào?
Trên hết, đó là khả năng kết hợp thông tin thành một bức tranh rộng lớn về thế giới. Vai trò của người giáo viên thay đổi thì theo đó người học cũng sẽ thay đổi theo. Học tập trong quá khứ thường mang tính thụ động không tích cực và người học chủ yếu tham gia vào các chương trình giáo dục mà đã được xây dựng sẵn, có khuôn mẫu chung cho số đông và mang tính chất tiếp cận kiến thức một chiều. Ngày nay, theo đòi hỏi của giáo dục hiện đại, người học buộc phải tăng tính chủ động, khả năng tự định hướng các kiến thức mình cần và xây dựng lộ trình học tập riêng theo đòi hỏi của từng cá nhân. 
Vì vậy, học tập không thể chỉ giới hạn trong độ tuổi đi học. Người học cần phải có năng lực học tập suốt đời, không ngừng cập nhật kiến thức và tri thức để theo kịp các đòi hỏi công việc liên tục thay đổi trong xã hội 4.0. Khái niệm “thầy” cũng có nhiều thay đổi trong thời hiện đại. Nếu như trước đây chỉ giáo viên mới có thể đứng lớp và giảng dạy, thì ngày nay, nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ, bất kỳ ai cũng có thể tham gia vào chu trình giáo dục và trở thành thầy và lớp học có thể được mở mọi lúc mọi nơi.